Khi nào thất bại thị trường khiến nguồn lực bị phân bổ kém hiệu quả?
- Thất bại thị trường là gì và thế nào là phân bổ nguồn lực hiệu quả?
- Cơ chế chung: khi tín hiệu giá không còn phản ánh đầy đủ giá trị xã hội
- Ngoại ứng khiến chi phí hoặc lợi ích xã hội nằm ngoài giá thị trường
- Hàng hóa công cộng và tài nguyên chung tạo ra hai dạng sai lệch khác nhau
- Quyền lực thị trường làm giá và sản lượng lệch khỏi mức cạnh tranh
- Thông tin bất cân xứng có thể làm những giao dịch cùng có lợi biến mất
- Thị trường thiếu hoặc không hoàn chỉnh khiến một số giá trị không thể được giao dịch
- Làm thế nào nhận biết một trường hợp có thực sự là thất bại thị trường?
Trong kinh tế học phúc lợi, điểm tham chiếu cơ bản là điều kiện lợi ích xã hội cận biên bằng chi phí xã hội cận biên, hay MSB = MSC. Khi giá cả truyền tải đầy đủ các chi phí và lợi ích liên quan, cạnh tranh đủ mạnh, thông tin cần thiết tồn tại và các quyền giao dịch có thể được xác lập, quyết định tư nhân có khả năng đưa thị trường đến gần mức này. Thất bại thị trường xuất hiện khi một hoặc nhiều điều kiện đó không còn đúng, khiến sản lượng, mức tiêu dùng hoặc cách sử dụng nguồn lực lệch khỏi mức tối ưu đối với toàn xã hội.
Thất bại thị trường là gì và thế nào là phân bổ nguồn lực hiệu quả?
Thất bại thị trường là tình trạng trong đó cơ chế thị trường phi tập trung không tạo ra một phân bổ nguồn lực hiệu quả theo chuẩn kinh tế học phúc lợi. Nói cách khác, trạng thái cân bằng mà người mua và người bán tự lựa chọn vẫn có thể để lại những cơ hội cải thiện phúc lợi xã hội chưa được khai thác hoặc tạo ra tổn thất phúc lợi ròng.
Cần phân biệt hai khái niệm thường bị đánh đồng: cân bằng thị trường và hiệu quả kinh tế. Cân bằng chỉ có nghĩa lượng người mua muốn mua bằng lượng người bán muốn bán tại một mức giá nhất định. Hiệu quả đòi hỏi thêm một điều kiện: đơn vị cuối cùng được sản xuất phải có giá trị đối với xã hội ít nhất bằng chi phí xã hội cần bỏ ra để tạo ra nó.
Về mặt cận biên, mức phân bổ hiệu quả đạt tại:
MSB = MSC
Trong đó:
· MSB là lợi ích xã hội cận biên
· MSC là chi phí xã hội cận biên
Trong một thị trường cạnh tranh lý tưởng, không có ngoại ứng và không có các méo mó khác, lợi ích và chi phí tư nhân trùng với lợi ích và chi phí xã hội. Khi đó:
MPB = MSB
và
MPC = MSC
Giá thị trường có thể điều phối các quyết định riêng lẻ về mức hiệu quả. Đây là trực giác đứng sau định lý cơ bản thứ nhất của kinh tế học phúc lợi: dưới những điều kiện phù hợp, cân bằng cạnh tranh có thể đạt hiệu quả Pareto.
Nhưng chính cụm từ “dưới những điều kiện phù hợp” là điểm quan trọng. Khi chi phí xã hội khác chi phí mà người ra quyết định phải trả, khi lợi ích lan sang người ngoài giao dịch, khi một bên có quyền lực kiểm soát giá, khi thông tin bị lệch hoặc khi một giao dịch cần thiết thậm chí không thể hình thành, cơ chế giá không còn thực hiện đầy đủ chức năng phân bổ.
Vì vậy, thất bại thị trường không có nghĩa “thị trường không hoạt động”. Thị trường vẫn có thể mua bán, hình thành giá và đạt cân bằng. Điều thất bại là khả năng biến các quyết định tư nhân thành một kết quả tối ưu về mặt xã hội.

Cơ chế chung: khi tín hiệu giá không còn phản ánh đầy đủ giá trị xã hội
Giá là tín hiệu trung tâm của cơ chế thị trường. Người tiêu dùng so sánh giá với lợi ích họ nhận được; doanh nghiệp so sánh giá với chi phí sản xuất. Nếu tất cả chi phí và lợi ích quan trọng đều nằm trong phép tính đó, hàng hóa có xu hướng được sản xuất đến mức mà giá trị của đơn vị cuối cùng tương xứng với nguồn lực dùng để tạo ra nó.
Thất bại thị trường xảy ra khi phép tính tư nhân và phép tính xã hội tách khỏi nhau.
Giả sử một doanh nghiệp quyết định sản xuất dựa trên chi phí cận biên tư nhân MPC. Nếu quá trình sản xuất đồng thời gây một chi phí cho người ngoài giao dịch mà doanh nghiệp không phải thanh toán, chi phí thực đối với xã hội sẽ là:
MSC = MPC Marginal External Cost
Khi đó doanh nghiệp dừng sản xuất tại điểm phù hợp với chi phí của chính mình, nhưng xã hội muốn dừng sớm hơn. Sản lượng thị trường cao hơn mức hiệu quả.
Chiều ngược lại cũng có thể xảy ra. Nếu một hoạt động tạo lợi ích cho cả những người không trả tiền cho nó:
MSB = MPB Marginal External Benefit
Người ra quyết định chỉ nhìn thấy MPB, nên mức tiêu dùng hoặc đầu tư tư nhân có thể thấp hơn mức mang lại lợi ích lớn nhất cho xã hội.
Tuy nhiên, sai lệch giữa lợi ích tư nhân và lợi ích xã hội chỉ là một cơ chế. Thị trường cũng có thể mất hiệu quả vì doanh nghiệp hạn chế sản lượng bằng quyền lực thị trường, vì thông tin khiến những giao dịch tốt không xảy ra hoặc vì một số quyền và rủi ro không thể được giao dịch trên thị trường.
Điểm chung của các trường hợp này là giá và lượng quan sát được không còn biểu hiện đầy đủ chi phí cơ hội và giá trị xã hội của nguồn lực.
Ngoại ứng khiến chi phí hoặc lợi ích xã hội nằm ngoài giá thị trường
Ngoại ứng xuất hiện khi hành động của một người hoặc doanh nghiệp ảnh hưởng đến phúc lợi của một bên thứ ba nhưng ảnh hưởng đó không được phản ánh đầy đủ trong giá giao dịch.
Ngoại ứng tiêu cực dẫn đến sản xuất hoặc tiêu dùng quá mức
Với ngoại ứng tiêu cực, chi phí xã hội lớn hơn chi phí tư nhân:
MSC > MPC
Một nhà sản xuất chỉ cân nhắc tiền lương, nguyên liệu, năng lượng và những khoản mà họ thực sự phải thanh toán. Nếu hoạt động đó đồng thời tạo ô nhiễm gây thiệt hại cho cư dân xung quanh nhưng chi phí này không quay lại bảng chi phí của doanh nghiệp, giá sản phẩm sẽ không phản ánh toàn bộ nguồn lực xã hội đã bị tiêu hao.
Thị trường đạt cân bằng tại nơi lợi ích tư nhân cận biên bằng chi phí tư nhân cận biên. Trong khi đó, mức xã hội tối ưu phải được xác định bằng MSB = MSC. Vì MSC cao hơn MPC, sản lượng thị trường thường lớn hơn mức hiệu quả:
Q_market > Q*
Những đơn vị sản lượng nằm giữa Q* và Q_market vẫn có thể có lợi cho người mua và người bán, nhưng tổng lợi ích chúng tạo ra nhỏ hơn tổng chi phí mà xã hội phải chịu. Phần chênh lệch này tạo ra tổn thất vô ích về phúc lợi.
Ngoại ứng tích cực dẫn đến cung cấp hoặc tiêu dùng dưới mức hiệu quả
Ngoại ứng tích cực có cấu trúc ngược lại. Một hoạt động mang lại lợi ích cho cả những người không tham gia giao dịch, vì vậy:
MSB > MPB
Người thực hiện hoạt động chỉ tính phần lợi ích mà chính họ nhận được. Vì một phần giá trị lan sang người khác mà không được trả lại cho người tạo ra nó, động cơ tư nhân thấp hơn giá trị xã hội.
Kết quả thường là:
Q_market < Q*
Đây là lý do những hoạt động tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực có thể được cung cấp ít hơn mức tối ưu ngay cả khi không có ai hành động phi lý.
Tuy nhiên, sự tồn tại của một tác động bên ngoài chưa đủ để kết luận rằng thất bại thị trường chắc chắn kéo dài. Lập luận Coase cho thấy nếu quyền sở hữu được xác định rõ, số bên liên quan không quá lớn và chi phí thương lượng đủ thấp, các bên có thể tự thương lượng để nội hóa một phần hoặc toàn bộ ngoại ứng. Chính chi phí giao dịch, khó khăn trong xác định quyền và số lượng bên bị ảnh hưởng quyết định ngoại ứng có thể được xử lý thông qua giao dịch tư nhân hay không.
Hàng hóa công cộng và tài nguyên chung tạo ra hai dạng sai lệch khác nhau
Hàng hóa công cộng và tài nguyên chung thường được đặt gần nhau vì cả hai đều gặp khó khăn trong việc loại trừ người sử dụng. Tuy nhiên, cơ chế thất bại của chúng không giống nhau.
Hàng hóa công cộng có xu hướng bị cung cấp dưới mức xã hội mong muốn
Một hàng hóa công cộng thuần túy có hai đặc điểm: không cạnh tranh trong tiêu dùng và khó hoặc không thể loại trừ.
Không cạnh tranh nghĩa là một người sử dụng không nhất thiết làm giảm khả năng sử dụng của người khác. Không thể loại trừ nghĩa là rất khó ngăn một người hưởng lợi chỉ vì họ không trả tiền.
Cấu trúc này tạo ra vấn đề người đi xe miễn phí. Nếu một cá nhân tin rằng hàng hóa vẫn được cung cấp dù mình không đóng góp, họ có động cơ khai báo mức sẵn lòng trả thấp hơn lợi ích thực tế nhận được. Doanh thu thị trường vì thế không phản ánh tổng lợi ích xã hội.
Đối với hàng hóa tư nhân, người mua cạnh tranh cho từng đơn vị nên đường cầu thị trường được cộng theo chiều ngang. Với hàng hóa công cộng, nhiều người có thể đồng thời hưởng lợi từ cùng một đơn vị. Điều kiện Samuelson cho mức cung hiệu quả vì thế yêu cầu tổng lợi ích cận biên của tất cả người sử dụng bằng chi phí cận biên cung cấp:
Σ MB_i = MC
Nếu chỉ dựa vào khoản thanh toán tự nguyện của từng cá nhân, tổng mức sẵn lòng trả thường bị bộc lộ không đầy đủ và hàng hóa có thể bị cung cấp dưới mức hiệu quả.
Cũng cần phân biệt hàng hóa công cộng với “hàng hóa do nhà nước cung cấp”. Một sản phẩm được khu vực công cung cấp chưa chắc là hàng hóa công cộng theo nghĩa kinh tế học; ngược lại, đặc tính kinh tế của hàng hóa được xác định bởi tính cạnh tranh và khả năng loại trừ, không phải bởi danh tính của đơn vị cung cấp.
Tài nguyên chung có xu hướng bị khai thác quá mức
Tài nguyên chung khác hàng hóa công cộng ở một điểm quan trọng: việc một người sử dụng thường làm giảm phần tài nguyên còn lại cho người khác.
Một nguồn cá, đồng cỏ hoặc nguồn nước có thể rất khó loại trừ người tiếp cận, nhưng lượng được khai thác hôm nay lại ảnh hưởng trực tiếp đến lượng dành cho người khác hoặc cho tương lai.
Mỗi người sử dụng nhận toàn bộ lợi ích tư nhân từ phần mình khai thác nhưng chỉ gánh một phần chi phí do suy giảm tài nguyên gây ra cho cả cộng đồng. Vì thế, chi phí cận biên mà cá nhân cảm nhận thấp hơn chi phí xã hội cận biên.
Kết quả không phải cung cấp thiếu như hàng hóa công cộng, mà thường là sử dụng quá mức một nguồn lực khan hiếm. Hai trường hợp có chung vấn đề về quyền tiếp cận nhưng tạo ra hai kiểu sai lệch phân bổ hoàn toàn khác nhau.
Quyền lực thị trường làm giá và sản lượng lệch khỏi mức cạnh tranh
Một điều kiện quan trọng để cơ chế giá tạo phân bổ hiệu quả là các chủ thể không có đủ quyền lực để đơn phương điều khiển giá theo hướng có lợi cho mình.
Trong thị trường cạnh tranh lý tưởng, một doanh nghiệp chấp nhận giá thị trường và lựa chọn sản lượng sao cho:
P = MC
Điều này có ý nghĩa phân bổ: người tiêu dùng mua đơn vị cuối cùng khi mức sẵn lòng trả của họ tương ứng với chi phí cận biên cần để sản xuất đơn vị đó.
Một doanh nghiệp có quyền lực thị trường lại đối mặt với đường cầu dốc xuống. Để bán thêm sản phẩm, doanh nghiệp thường phải chấp nhận giá thấp hơn. Vì vậy, doanh thu cận biên MR thấp hơn giá bán.
Doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận tại:
MR = MC
Do MR < P, kết quả thường dẫn đến:
P > MC
và sản lượng thấp hơn mức cạnh tranh.
Điều này tạo một vùng giao dịch mà người tiêu dùng sẵn lòng trả nhiều hơn chi phí cận biên để sản xuất, nhưng giao dịch không xảy ra vì doanh nghiệp có lợi khi duy trì sản lượng thấp hơn và giá cao hơn. Tổng thặng dư xã hội vì thế giảm và xuất hiện tổn thất vô ích.
Độc quyền tự nhiên là một trường hợp cần nhìn kỹ hơn. Khi chi phí cố định rất lớn và chi phí bình quân giảm mạnh trong phạm vi cầu thị trường, việc chỉ có một nhà cung cấp có thể tiết kiệm chi phí sản xuất hơn việc xây dựng nhiều mạng lưới trùng lặp. Tuy nhiên, cấu trúc chi phí đó không làm mất vấn đề quyền lực giá. Nó chỉ cho thấy “nhiều doanh nghiệp hơn” không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn duy nhất của hiệu quả.
Tương tự, mức độ tập trung thị trường cao chưa tự động chứng minh thất bại thị trường. Điều quan trọng là doanh nghiệp có thực sự có khả năng duy trì giá cao hơn mức cạnh tranh, hạn chế sản lượng hoặc ngăn các giao dịch tạo thêm thặng dư xã hội hay không.
Thông tin bất cân xứng có thể làm những giao dịch cùng có lợi biến mất
Cơ chế thị trường dựa trên việc các bên có đủ thông tin để định giá hàng hóa, rủi ro và nghĩa vụ trong hợp đồng. Khi một bên biết nhiều hơn đáng kể so với bên kia về một thuộc tính quan trọng, giá có thể không còn phân biệt được những giao dịch có chất lượng khác nhau.
Hai cơ chế kinh điển là lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức.
Lựa chọn bất lợi xảy ra trước khi giao dịch được ký kết
Lựa chọn bất lợi xuất hiện khi một bên biết rõ hơn về chất lượng hoặc mức rủi ro của mình trước khi hợp đồng được hình thành.
Mô hình “thị trường chanh” của Akerlof minh họa cơ chế này. Nếu người mua không thể phân biệt sản phẩm chất lượng cao và chất lượng thấp, họ sẽ chỉ sẵn lòng trả một mức giá dựa trên chất lượng trung bình mà họ kỳ vọng.
Mức giá đó có thể quá thấp đối với những người bán sản phẩm chất lượng cao. Những người bán tốt rời thị trường, khiến chất lượng trung bình của phần còn lại tiếp tục giảm. Kỳ vọng của người mua xấu đi, giá họ sẵn lòng trả giảm tiếp và quá trình có thể khiến thị trường thu hẹp đáng kể.
Điểm đáng chú ý là giao dịch biến mất không phải vì sản phẩm tốt không có giá trị. Nó biến mất vì thông tin cần thiết để định giá sản phẩm không được truyền tải đáng tin cậy.
Rủi ro đạo đức xuất hiện sau khi hợp đồng đã được ký
Rủi ro đạo đức xảy ra khi một hợp đồng làm thay đổi hành vi của một bên nhưng bên còn lại khó quan sát hoặc kiểm soát hành vi đó.
Chẳng hạn, khi một phần hậu quả tài chính của một hành động được chuyển sang người khác thông qua hợp đồng, người được bảo vệ có thể có ít động cơ phòng ngừa hơn. Chi phí kỳ vọng của hợp đồng tăng lên dù bên cung cấp hợp đồng không thể quan sát hoàn hảo mọi hành động.
Điều này có thể dẫn đến phí cao hơn, phạm vi hợp đồng hẹp hơn hoặc một số giao dịch không được cung cấp dù chúng có thể tạo lợi ích nếu thông tin đầy đủ.
Tuy nhiên, thông tin bất cân xứng không đồng nghĩa với việc thị trường chắc chắn thất bại hoàn toàn. Bảo hành, danh tiếng, chứng nhận, tín hiệu, sàng lọc và cấu trúc hợp đồng có thể giúp giảm khoảng cách thông tin. Câu hỏi kinh tế quan trọng là liệu các cơ chế đó có giảm sai lệch đủ để những giao dịch tạo giá trị tiếp tục diễn ra hay không.
Thị trường thiếu hoặc không hoàn chỉnh khiến một số giá trị không thể được giao dịch
Một thất bại khác xuất hiện khi thị trường cần thiết để trao đổi một quyền, một rủi ro hoặc một trạng thái tương lai không tồn tại hoặc chỉ tồn tại một phần.
Trong mô hình thị trường hoàn chỉnh, các chủ thể về nguyên tắc có thể giao dịch các quyền lợi và nghĩa vụ gắn với những trạng thái kinh tế khác nhau. Trên thực tế, nhiều hợp đồng không thể được thiết kế đầy đủ vì quyền sở hữu khó xác định, hành vi khó kiểm chứng, việc thực thi tốn kém hoặc chi phí giao dịch quá lớn.
Khi đó, một giao dịch có thể có tổng lợi ích lớn hơn tổng chi phí nhưng vẫn không xảy ra.
Ví dụ về mặt cơ chế, một người sẵn sàng trả để chuyển một phần rủi ro cho bên có khả năng gánh rủi ro tốt hơn. Nếu rủi ro đó không thể đo lường hoặc hành vi sau hợp đồng không thể quan sát, một hợp đồng hoàn chỉnh có thể không được hình thành. Nguồn lực vì vậy không được chuyển đến phương án mà hai bên đều có khả năng hưởng lợi.
Thị trường không hoàn chỉnh có liên hệ chặt với chi phí giao dịch, quyền tài sản và thông tin bất cân xứng, nhưng không hoàn toàn đồng nhất với chúng. Điểm nhận diện riêng là một quyền hoặc giao dịch có giá trị kinh tế không thể được trao đổi bằng một hợp đồng khả thi.
Cũng không nên coi mọi thị trường không tồn tại là bằng chứng của thất bại. Nếu chi phí thiết lập, đo lường và thực thi giao dịch lớn hơn lợi ích mà giao dịch có thể tạo ra, việc không hình thành thị trường có thể chính là kết quả hợp lý. Chỉ khi có giá trị ròng đáng kể bị bỏ lại vì các rào cản giao dịch thì vấn đề hiệu quả mới thực sự xuất hiện.
Làm thế nào nhận biết một trường hợp có thực sự là thất bại thị trường?
Một cách hữu ích để chẩn đoán là không bắt đầu từ câu hỏi “kết quả này có tốt hay xấu không”, mà bắt đầu từ điều kiện hiệu quả nào đang bị phá vỡ.
Có thể kiểm tra lần lượt:
1. Chi phí và lợi ích tư nhân có trùng với chi phí và lợi ích xã hội không? Nếu không, cần kiểm tra ngoại ứng hoặc một quyền lợi chưa được định giá
2. Người bán và người mua có đủ sức cạnh tranh để giá phản ánh chi phí cận biên không? Nếu một bên có thể hạn chế sản lượng và duy trì P > MC, quyền lực thị trường có thể tạo tổn thất phúc lợi
3. Các bên có đủ thông tin để định giá chất lượng, rủi ro và hành vi không? Nếu thông tin bất cân xứng làm giao dịch cùng có lợi biến mất, phân bổ có thể kém hiệu quả
4. Những quyền và rủi ro quan trọng có thể được giao dịch bằng hợp đồng khả thi không? Nếu không, thị trường có thể thiếu hoặc không hoàn chỉnh
5. Sản lượng thị trường có khác mức thỏa mãn MSB = MSC không? Đây là phép thử tổng quát nhất để xác định có sai lệch phân bổ hay không
Một hiểu lầm quan trọng cần loại bỏ là coi bất bình đẳng đồng nghĩa với thất bại thị trường. Hiệu quả và công bằng là hai tiêu chuẩn khác nhau. Một phân bổ có thể hiệu quả theo nghĩa không còn cách tái phân bổ nào làm một người tốt hơn mà không làm người khác kém đi, nhưng vẫn rất bất bình đẳng. Ngược lại, một chính sách có mục tiêu phân phối thu nhập có thể được lựa chọn vì lý do công bằng ngay cả khi vấn đề ban đầu không phải là thất bại thị trường.
Tương tự, việc xác định một thất bại thị trường mới chỉ là bước chẩn đoán. Nó cho thấy kết quả thị trường có khả năng lệch khỏi mức xã hội tối ưu, chứ chưa tự chứng minh rằng bất kỳ biện pháp can thiệp nào cũng sẽ cải thiện kết quả. Muốn đánh giá một giải pháp cụ thể còn phải so sánh lợi ích của việc sửa sai lệch với chi phí thông tin, thực thi và các méo mó mới mà giải pháp đó có thể tạo ra.
Thất bại thị trường xảy ra khi quyết định tối ưu đối với từng cá nhân hoặc doanh nghiệp không cộng lại thành một kết quả tối ưu đối với toàn xã hội. Dấu hiệu nền tảng là giá, sản lượng hoặc cấu trúc giao dịch không còn phản ánh đầy đủ lợi ích xã hội cận biên và chi phí xã hội cận biên.
Ngoại ứng tạo khoảng cách giữa chi phí hoặc lợi ích tư nhân với xã hội; hàng hóa công cộng bị cung cấp thiếu do vấn đề đi xe miễn phí; tài nguyên chung có thể bị khai thác quá mức; quyền lực thị trường làm sản lượng bị hạn chế; thông tin bất cân xứng loại bỏ những giao dịch đáng lẽ cùng có lợi; còn thị trường không hoàn chỉnh khiến một số quyền và rủi ro có giá trị không thể được trao đổi.
Vì thế, câu hỏi quyết định không phải là “thị trường có tạo ra một kết quả khiến mọi người hài lòng hay không”, mà là: kết quả thị trường có đạt điểm mà lợi ích xã hội cận biên bằng chi phí xã hội cận biên hay vẫn còn nguồn lực có thể được phân bổ lại để tạo thêm phúc lợi ròng?
