Vì sao lợi thế so sánh vẫn tồn tại khi có lợi thế tuyệt đối?
- Lợi thế so sánh được xác định bằng chi phí cơ hội
- Lợi thế tuyệt đối khác lợi thế so sánh ở điểm nào?
- Vì sao bên mạnh hơn ở mọi hàng hóa vẫn có lợi thế so sánh riêng?
- Ví dụ số cho thấy lợi thế tuyệt đối không xóa lợi thế so sánh
- Chuyên môn hóa và trao đổi tạo lợi ích như thế nào?
- Khi nào lợi thế so sánh thực sự tạo cơ sở cho trao đổi?
- Lợi thế so sánh không đồng nghĩa với chuyên môn hóa tuyệt đối
Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải chỉ là “ai sản xuất được nhiều hơn?”, mà là “ai phải hy sinh ít hơn khi chuyển nguồn lực sang sản xuất mặt hàng này?”. Một bên có thể giỏi hơn tuyệt đối ở tất cả sản phẩm nhưng mức độ vượt trội không giống nhau. Chính sự khác biệt về mức độ tương đối đó tạo ra lợi thế so sánh và cơ sở cho trao đổi.
Lợi thế so sánh được xác định bằng chi phí cơ hội
Lợi thế so sánh là khả năng sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ với chi phí cơ hội thấp hơn so với một chủ thể khác. Chủ thể ở đây có thể là quốc gia, doanh nghiệp, cá nhân hoặc bất kỳ đơn vị nào phải phân bổ nguồn lực hữu hạn giữa nhiều hoạt động.
Giả sử cùng một lượng lao động có thể được dùng để sản xuất lúa hoặc vải. Khi chuyển lao động từ vải sang lúa, lượng vải phải từ bỏ chính là chi phí cơ hội của việc tăng sản lượng lúa. Bên nào phải từ bỏ ít vải hơn để có thêm một đơn vị lúa thì có lợi thế so sánh về lúa.
Đây là điểm cốt lõi: lợi thế so sánh không đánh giá sản lượng một cách độc lập. Nó đánh giá tỷ lệ đánh đổi giữa các phương án sử dụng nguồn lực.
Trong kinh tế học thương mại, nguyên lý này là hạt nhân của lý thuyết lợi thế so sánh thường gắn với David Ricardo. Cách diễn giải hiện đại bằng chi phí cơ hội giúp thấy rõ rằng ngay cả khi năng suất tuyệt đối giữa hai bên rất chênh lệch, sự khác nhau về tỷ lệ đánh đổi vẫn có thể tạo ra cơ sở cho chuyên môn hóa.

Lợi thế tuyệt đối khác lợi thế so sánh ở điểm nào?
Lợi thế tuyệt đối trả lời câu hỏi: với cùng lượng đầu vào, bên nào sản xuất được nhiều hơn? Nếu doanh nghiệp A dùng một giờ lao động làm được 10 sản phẩm trong khi doanh nghiệp B chỉ làm được 6, A có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm đó.
Lợi thế so sánh lại hỏi một câu khác: để sản xuất thêm sản phẩm này, mỗi bên phải từ bỏ bao nhiêu sản phẩm khác?
Do đó, hai loại lợi thế đo hai đại lượng khác nhau:
|
Tiêu chí |
Lợi thế tuyệt đối |
Lợi thế so sánh |
|
Cơ sở đánh giá |
Năng suất hoặc lượng đầu vào cần thiết |
Chi phí cơ hội |
|
Câu hỏi chính |
Ai sản xuất hiệu quả hơn về mặt tuyệt đối? |
Ai hy sinh ít hơn để sản xuất mặt hàng này? |
|
Tính chất |
So sánh mức năng suất |
So sánh tỷ lệ đánh đổi |
|
Vai trò đối với chuyên môn hóa |
Chưa đủ để xác định |
Là cơ sở quan trọng để xác định hướng chuyên môn hóa |
Bởi vậy, việc một bên có lợi thế tuyệt đối không cho biết bên đó nên tự sản xuất tất cả mọi thứ. Nếu sử dụng nguồn lực vào một lĩnh vực mà lợi thế tương đối của mình thấp, bên đó phải từ bỏ cơ hội tạo ra nhiều giá trị hơn ở lĩnh vực mà mình có lợi thế so sánh mạnh hơn.
Vì sao bên mạnh hơn ở mọi hàng hóa vẫn có lợi thế so sánh riêng?
Giả sử A có năng suất cao hơn B trong cả hai hàng hóa. Điều này chỉ cho biết A có lợi thế tuyệt đối ở cả hai. Muốn xác định lợi thế so sánh, cần xem mức độ A vượt trội ở từng hàng hóa có giống nhau hay không.
Nếu A vượt trội rất lớn trong sản xuất lúa nhưng chỉ vượt trội một chút trong sản xuất vải, việc sử dụng nguồn lực của A để làm vải có thể rất đắt về chi phí cơ hội. Mỗi đơn vị nguồn lực chuyển sang vải đồng nghĩa A từ bỏ một lượng lúa lớn mà mình đặc biệt hiệu quả trong việc sản xuất.
Ngược lại, B dù kém năng suất ở cả hai lĩnh vực vẫn có thể “kém ít hơn” trong sản xuất vải. Khi đó, chi phí cơ hội của vải tại B thấp hơn chi phí cơ hội của vải tại A. B có lợi thế so sánh về vải.
Vì thế, lợi thế so sánh tồn tại không phải vì bên yếu bất ngờ trở nên hiệu quả hơn bên mạnh, mà vì sự bất lợi của bên yếu không đồng đều giữa các hoạt động.
Trong mô hình đơn giản gồm hai bên và hai hàng hóa, nếu tỷ lệ chi phí cơ hội của hai bên khác nhau, bên có lợi thế so sánh về hàng hóa thứ nhất sẽ đồng thời không có lợi thế so sánh về hàng hóa thứ hai. Quan hệ này bắt nguồn từ chính cấu trúc đánh đổi giữa hai hàng hóa.
Ví dụ số cho thấy lợi thế tuyệt đối không xóa lợi thế so sánh
Giả sử với cùng một ngày lao động:
|
Khả năng sản xuất tối đa |
Lúa |
Vải |
|
Bên A |
12 đơn vị |
6 đơn vị |
|
Bên B |
4 đơn vị |
4 đơn vị |
A sản xuất được nhiều lúa hơn B và cũng sản xuất được nhiều vải hơn B. Như vậy, A có lợi thế tuyệt đối trong cả hai hàng hóa.
Nhưng chi phí cơ hội lại cho kết quả khác.
Ở A, nếu toàn bộ nguồn lực có thể tạo 12 đơn vị lúa hoặc 6 đơn vị vải, thì sản xuất 1 đơn vị vải đồng nghĩa từ bỏ 2 đơn vị lúa. Nói cách khác:
Chi phí cơ hội của 1 vải tại A = 2 lúa
Ở B, 4 đơn vị lúa có thể đổi lấy 4 đơn vị vải về mặt sử dụng nguồn lực, nên:
Chi phí cơ hội của 1 vải tại B = 1 lúa
B vì thế có lợi thế so sánh về vải, bởi để làm thêm 1 đơn vị vải, B chỉ phải từ bỏ 1 đơn vị lúa, trong khi A phải từ bỏ 2.
Chiều ngược lại cũng đúng. Tại A, chi phí cơ hội của 1 đơn vị lúa là 0,5 đơn vị vải. Tại B, chi phí cơ hội của 1 đơn vị lúa là 1 đơn vị vải. Vì 0,5 thấp hơn 1, A có lợi thế so sánh về lúa.
Kết quả là:
· A có lợi thế tuyệt đối về cả lúa và vải
· A có lợi thế so sánh về lúa
· B không có lợi thế tuyệt đối nhưng có lợi thế so sánh về vải
Điều quyết định ở đây không phải B có sản xuất vải nhanh hơn A hay không. B vẫn sản xuất vải kém A về mặt tuyệt đối. Lợi thế của B nằm ở chỗ chi phí tương đối của việc sản xuất vải thấp hơn.
Chuyên môn hóa và trao đổi tạo lợi ích như thế nào?
Khác biệt về chi phí cơ hội tạo ra một khoảng tỷ lệ trao đổi mà cả hai bên đều có thể chấp nhận.
Trong ví dụ trên, để tự sản xuất 1 đơn vị vải, A phải hy sinh 2 đơn vị lúa. B chỉ phải hy sinh 1 đơn vị lúa. Giả sử hai bên có thể trao đổi theo tỷ lệ:
1 đơn vị vải = 1,5 đơn vị lúa
Đối với B, sản xuất thêm 1 đơn vị vải khiến B mất cơ hội sản xuất 1 đơn vị lúa. Nhưng nếu đem đơn vị vải đó đổi lấy 1,5 đơn vị lúa từ A, B nhận được nhiều hơn 0,5 đơn vị lúa so với phương án tự chuyển nguồn lực sang sản xuất lúa.
Đối với A, nếu tự sản xuất 1 đơn vị vải, A phải từ bỏ 2 đơn vị lúa. Nhưng thông qua trao đổi, A chỉ cần đưa 1,5 đơn vị lúa để nhận 1 đơn vị vải. A tiết kiệm tương đương 0,5 đơn vị lúa.
Cùng một giao dịch vì thế có thể tạo lợi ích cho cả hai phía. B khai thác lợi thế so sánh về vải; A khai thác lợi thế so sánh về lúa.
Cơ chế này giải thích tại sao chuyên môn hóa không nhất thiết dựa vào việc “ai giỏi nhất” theo nghĩa tuyệt đối. Nó dựa vào việc mỗi bên tập trung nhiều hơn vào hoạt động mà chi phí cơ hội của mình thấp tương đối, sau đó dùng trao đổi để tiếp cận những hàng hóa mà mình có chi phí cơ hội cao hơn.
Khi nào lợi thế so sánh thực sự tạo cơ sở cho trao đổi?
Có lợi thế so sánh không có nghĩa mọi hình thức trao đổi đều có lợi. Tỷ lệ trao đổi phải nằm trong khoảng chi phí cơ hội của hai bên.
Trong ví dụ trên, B mất 1 đơn vị lúa để tạo 1 đơn vị vải, còn A phải mất 2 đơn vị lúa. Vì vậy, tỷ lệ trao đổi có khả năng tạo lợi ích cho cả hai phải nằm giữa hai mức này:
1 lúa < giá của 1 vải < 2 lúa
Nếu 1 vải chỉ đổi được đúng 1 lúa, B không thu được lợi ích so với tự sản xuất lúa. Nếu 1 vải có giá từ 2 lúa trở lên, A không còn động cơ mua vì tự sản xuất vải sẽ không đắt hơn.
Điều này cho thấy lợi thế so sánh tạo ra tiềm năng thu lợi từ trao đổi, còn lợi ích thực tế phụ thuộc vào điều kiện trao đổi.
Trong thực tế, chi phí vận chuyển, chi phí giao dịch, thuế, rủi ro, khả năng dịch chuyển lao động và vốn hay chi phí điều chỉnh cơ cấu cũng có thể làm giảm lợi ích. Nếu các chi phí này lớn hơn phần tiết kiệm tạo ra từ khác biệt chi phí cơ hội, giao dịch có thể không còn hấp dẫn dù lợi thế so sánh về mặt sản xuất vẫn tồn tại.
Lợi thế so sánh không đồng nghĩa với chuyên môn hóa tuyệt đối
Một cách hiểu quá đơn giản là: xác định được lợi thế so sánh ở đâu thì phải dồn toàn bộ nguồn lực vào đó. Kết luận này vượt quá điều mà nguyên lý lợi thế so sánh thực sự cho phép khẳng định.
Trong mô hình lý thuyết đơn giản, chuyên môn hóa mạnh giúp làm rõ cơ chế. Trong thực tế, các chủ thể còn phải cân nhắc nhu cầu đa dạng hóa, độ bất định, năng lực điều chỉnh, chi phí giao dịch và nhiều giới hạn nguồn lực khác.
Điều có giá trị nhất của nguyên lý lợi thế so sánh là một quy tắc phân bổ: không nên chỉ nhìn vào năng suất tuyệt đối; cần nhìn vào giá trị của phương án tốt nhất bị từ bỏ.
Chính vì vậy, một doanh nghiệp rất giỏi ở nhiều công việc vẫn có thể thuê ngoài một số hoạt động. Một người có khả năng tự thực hiện cả hai nhiệm vụ vẫn có thể giao một nhiệm vụ cho người khác. Và một nền kinh tế có năng suất cao hơn ở nhiều ngành vẫn có thể trao đổi với nền kinh tế có năng suất thấp hơn.
Lý do chung không phải bên yếu làm tốt hơn tuyệt đối, mà là nguồn lực của bên mạnh có thể tạo ra giá trị lớn hơn khi được tập trung vào nơi mà lợi thế tương đối của nó cao nhất.
Lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh không loại trừ nhau vì chúng đo hai vấn đề khác nhau. Lợi thế tuyệt đối phản ánh ai có năng suất cao hơn, còn lợi thế so sánh phản ánh ai có chi phí cơ hội thấp hơn.
Do đó, một bên hoàn toàn có thể sản xuất hiệu quả hơn ở mọi hàng hóa nhưng vẫn chỉ có lợi thế so sánh mạnh ở một số hoạt động. Bên còn lại, dù kém hơn về năng suất tuyệt đối, vẫn có thể có lợi thế so sánh ở hoạt động mà mức bất lợi của mình nhỏ hơn. Khi tỷ lệ trao đổi nằm giữa chi phí cơ hội của hai bên và chi phí giao dịch không triệt tiêu phần lợi ích đó, chuyên môn hóa và trao đổi có thể giúp cả hai sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
